Hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và tiến bộ công nghệ
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Không chỉ là các đơn vị sản xuất của nền kinh tế, đây là khu vực cung cấp việc làm quan trọng.với xấp xỉ 35% tổng việc làm của khối doanh nghiệp. Tuy vậy, đây là khu vực gặp nhiều khó khăn thách thức trong quá trình phát triển. Với tác động của quá trình hội nhập, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt với thị trường cạnh tranh hơn. Trong khi đó, khu vực này vẫn chưa tích lũy đủ tiềm lực, khả năng, hiểu biết để đối mặt với quá trình cạnh tranh ngày càng cao. Đồng thời, công nghệ và tiến bộ công nghệ đang diễn nhanh dẫn đến các quá trình biến đổi về thị trường, công nghệ sản xuất, phân phối và cả quản lý. Điều này cũng thách thức các doanh nghiệp trong quá trình thích ứng.
Từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu của TS. Vũ Hoàng Đạt tại Trung tâm phân tích và dự báo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã thực hiện đề tài: “Hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và tiến bộ công nghệ” từ năm 2021 đến năm 2022.
Đề tài hướng đến thực hiện mục tiêu phân tích và làm rõ tác động của hội nhập quốc tế, tiến bộ công nghệ và quá trình gia nhập, rời bỏ và dịch chuyển nội bộ nhóm đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo tại Việt Nam; và đề xuất các chính sách nhằm hỗ trợ việc tận dụng các cơ hội và giảm thiểu các tác động tiêu cực của bối cảnh hội nhập quốc tế và tiến bộ công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích bức tranh về sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam trong giai đoạn 2010-2019 và đánh giá tác động của hội nhập quốc tế, cụ thể là tham gia xuất nhập khẩu, công nghệ sử dụng và công nghệ thông tin đến năng suất lao động cũng như năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các doanh nghiệp này. Đồng thời, các tác giả đã ước lượng tác động của việc gia nhập và rời bỏ và dịch chuyển giữa các nhóm đến năng suất trung bình của các nhóm doanh nghiệp theo quy mô. Các khía cạnh này là đại diện cho hai khía cạnh kênh chính trong thay đổi năng suất của một ngành hay một nhóm các doanh nghiệp đó là thay đổi trong nội bộ các doanh nghiệp và thay đổi nguồn lực giữa các doanh nghiệp có năng suất khác nhau. Kết quả cho thấy số lượng các doanh nghiệp tăng trưởng qua thời gian và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, sự phân cực trong phân bố theo quy mô tiếp tục diễn ra và trầm trọng thêm, điều này ngụ ý các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc phát triển theo quy mô và hạn chế trong việc có được các doanh nghiệp có quy mô có khả năng cạnh tranh và hạn chế trong cái thiện năng suất khi các ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam phần lớn có lợi thế do quy mô.
Thông qua sử dụng các mô hình và phương pháp ước lượng phù hợp, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết quả về tác động của tham gia xuất nhập khẩu, công nghệ sử dụng và công nghệ thông tin đến năng suất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam. Bên cạnh đó, đề tài phân tách riêng tác động của tham gia xuất khẩu và nhập khẩu. Các kết quả cho thấy việc tham gia xuất nhập khẩu không hoàn toàn có tác động tích cực đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo. Trong khi đó, kết quả về công nghệ sử dụng và mối liên hệ với năng suất được phản ánh tương đối tốt.
Dựa trên các kết quả thực nghiệm, kết hợp với bối cảnh được phân tích, các tác giả đã đưa ra các khuyến nghị chính sách bao gồm: chính sách chung đối với doanh nghiệp như chính sách thông tin về thị trường xuất, nhập khẩu; chính sách về xây dựng năng lực doanh nghiệp; chính sách về tạo điều kiện gia nhập và rời bỏ. Các chính sách hướng đối tượng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp cận vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm đổi với các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo; và các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ ở các ngành công nghệ trung bình cao.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21743/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/hieu-qua-cua-cac-doanh-nghiep-nho-va-vua-nganh-cong-nghiep-che-tao-o-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-va-tien-bo-cong-nghe-12997.html
















