Nghiên cứu chọn giống Quế có năng suất vỏ hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu cho vùng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ
Quế là sản vật quý, được sử dụng rộng rãi làm gia vị, hương liệu, mỹ phẩm và dược liệu trong cả Đông và Tây y. Ở Việt Nam, quế nằm trong nhóm lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu chủ lực. Trong khoảng 20 năm qua, diện tích trồng quế tăng nhanh, tập trung chủ yếu ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, với tốc độ tăng trưởng bình quân 10–15%/năm. Việt Nam hiện đứng thứ ba thế giới về sản xuất quế, đóng góp khoảng 17% tổng sản lượng toàn cầu.

Tuy nhiên, năng suất và sản lượng quế của Việt Nam vẫn còn thấp, năng suất trung bình chỉ đạt khoảng 0,36 tấn vỏ khô/ha/năm. Mặc dù giá xuất khẩu quế Việt Nam cao hơn so với Trung Quốc và Indonesia nhờ chất lượng giống tốt hơn, song tiềm năng nâng cao giá trị vẫn chưa được khai thác hiệu quả do công tác quản lý chất lượng và giống còn hạn chế. Bên cạnh đó, các biện pháp kỹ thuật thâm canh quế như tiêu chuẩn cây con, chăm sóc và bón phân trong 3 năm đầu còn thiếu các nghiên cứu và mô hình thực tiễn. Khâu khai thác, chế biến và bảo quản quế cũng chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, công nghệ còn lạc hậu, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Trước thực trạng trên, nhóm nghiên cứu của TS. Phan Văn Thắng tại Viện Khoa học lâm nghiệp Việt nam đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chọn giống Quế có năng suất vỏ hàm lượng và chất lượng tinh dầu cao phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu cho vùng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ” trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2022.
Đề tài hướng đến thực hiện mục tiêu lựa chọn được giống quế có năng suất vỏ cao hơn 15%, hàm lượng tinh dầu cao hơn 10% so với trung bình trong sản xuất tại 3 vùng gồm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ; xây dựng được vườn cung cấp giống đã được cải thiện; và hoàn thiện được biện pháp kỹ thuật trồng, khai thác, sơ chế, bảo quản vỏ quế.
Dưới đây là một số kết quả nổi bật của đề tài nghiên cứu:
Thứ nhất, về thực trạng nguồn giống, gây trồng, khai thác, chế biến và thị trường quế tại ba vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ cho thấy nguồn giống quế ở nước ta hiện còn hạn chế về chất lượng. Tổng diện tích nguồn giống đạt 152 ha với 380 cây trội, trong đó phần lớn là nguồn giống chất lượng thấp, chủ yếu tập trung ở Bắc Bộ, mới đáp ứng nhu cầu sản xuất cây giống nhưng chưa bảo đảm cải thiện di truyền. Hoạt động khai thác, sơ chế và bảo quản vỏ quế hiện nay còn đơn giản, công nghệ thấp, chưa đáp ứng tốt yêu cầu xuất khẩu, trong khi thị trường các sản phẩm quế có mức tăng trưởng khá cao và tiềm năng lớn.
Thứ hai, về nghiên cứu chọn giống và khảo nghiệm giống, nhóm nghiên cứu đã xác định được ba vùng lấy giống chính tương ứng với ba vùng sinh thái. Từ khảo sát và đánh giá, đã lựa chọn được 150 cây trội quế có ưu thế rõ rệt về sinh trưởng, sản lượng vỏ, hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Các chỉ tiêu vượt trội đạt mức cao, đặc biệt hàm lượng tinh dầu và thành phần chính đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Kết quả nhân giống vô tính bằng hom cho thấy tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn đem trồng đạt tối thiểu 70% sau 9 tháng. Qua 3 năm trồng khảo nghiệm hậu thế trên diện tích 9 ha, đã bước đầu xác định được 18 gia đình quế có triển vọng nhất về sinh trưởng, hàm lượng tinh dầu và chất lượng sản phẩm, phân bố đều ở cả ba vùng sinh thái.
Thứ ba, về các biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh quế, kết quả nghiên cứu cho thấy trồng quế bằng cây con có bầu cho tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn so với cây rễ trần. Cây con 24 tháng tuổi sau 3 năm trồng sinh trưởng vượt trội so với cây 12 tháng tuổi. Biện pháp bón thúc phân NPK (5-10-3-S) với liều lượng 0,2 kg/cây năm thứ hai và 0,3 kg/cây năm thứ ba cho hiệu quả sinh trưởng tốt nhất so với các công thức bón phân khác hoặc không bón.
Thứ tư, về kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản vỏ quế, kết quả cho thấy khai thác quế từ 8 năm tuổi trở lên, vào vụ Hè - Thu cho chất lượng vỏ tốt, dễ bóc và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Phương pháp sơ chế kết hợp phơi tự nhiên và sấy vi sóng với các thông số kỹ thuật phù hợp giúp giảm thất thoát tinh dầu, nâng cao chất lượng sản phẩm. Vỏ quế sau sơ chế được bảo quản bằng túi hút chân không có thể giữ ổn định chất lượng trong thời gian tối thiểu 12 tháng.
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở quan trọng nhằm nâng cao giá trị rừng trồng quế, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm quế Việt Nam trên thị trường thế giới và đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo hướng phát triển bền vững.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21749/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-chon-giong-que-co-nang-suat-vo-ham-luong-va-chat-luong-tinh-dau-cao-phuc-vu-tieu-dung-va-xuat-khau-cho-vung-bac-bo-bac-trung-bo-va-nam-trung-bo-13009.html
- Nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn về IoT (21/05/2026)
- Nghiên sản xuất chế phẩm oligo-βglucan bằng công nghệ bức xạ phục vụ nuôi tôm sạch chất lượng cao (21/05/2026)
- Hiệu quả của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghiệp chế tạo ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và tiến bộ công nghệ (21/05/2026)
- Mô hình kinh tế tuần hoàn trong phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam (21/05/2026)
















